Trung Quốc và Lào thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 25/4/1961, quan hệ hai nước sau đó trải qua giai đoạn phát triển thăng trầm, phải đến tháng 6/1988 mới khôi phục quan hệ ngoại giao bình thường, tháng 10/1989, thủ tướng Kaysone Phomvihan thăm Trung Quốc, tháng 12/1990 Thủ tướng Lý Bằng thăm Lào, hai bên đã ký kết một loạt văn kiện ngoại giao, quan hệ hai nước bình thường hóa, đồng thời bắt đầu từng bước đi vào giai đoạn phát triển toàn diện hợp tác hữu hảo. Ngoài ra, đầu tư FDI của Trung Quốc với Lào từ sau khi quan hệ hai nước Trung Lào hoàn toàn bình thường hóa đã đón nhận thời kỳ phát triển toàn diện.

Tháng 9/2009, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào thăm Lào đã cùng với Chủ tịch nước Lào Choumaly Xaynhason nhất trí nâng cấp quan hệ hai nướ Trung Lào lên thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Tháng 11/2017, Chủ tịch Tập Cận Bình và Chủ tịch Lào ông Bounnhang Volachit đã nhất trí việc xây dựng Cộng đồng vận mệnh chung Trung Lào. Từ đó, quan hệ Trung Lào bước lên tầm cao mới. Các lĩnh vực chính trị, kinh tế, du lịch, giao thông vv… giữa hai nước đón nhận sự hòa hợp và phát triển sâu sắc hơn nữa.
Chính phủ Lào từ năm 1986 bắt đầu thực hiện cải kinh tế, mở cửa đối với nước ngoài, năm 1988 lần đầu tiên ban hành Luật Đầu tư, bao quát các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ vv… Năm 1994, thực hiện sửa đổi Luật Đầu tư, chuyển một bộ phận quyền thu hút đầu tư nước ngoài xuống cho địa phương, đồng thời hạ thập mức thuế lợi tức. Tháng 7/1997 Lào chính thức gia nhập ASEAN, tích cực tham gia các công việc ASEAN, phát triển quan hệ hữu nghị với các nước ASEAN. Sau đó, vào các năm 2004 và 2009 Lào một lần nữa tiến hành sửa đổi Luật Đầu tư, phân chia toàn quốc thành những khu vực khác nhau, căn cứ theo khu vực phân chia để có chính sách ưu đãi thuế khác nhau nhằm thu hút đầu tư nước ngoài.

Từ quá trình phát triển quan hệ Trung Quốc và Lào có thể phân chia quá trình đầu tư FDI của Trung Quốc vào Lào thành 3 giai đoạn.
Giai đoạn khởi đầu. Giai đoạn khởi đầu được tính từ thời điểm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao cho đến trước khi Lào gia nhập ASEAN, từ năm 1961 – 1996. Giai đoạn này, do thập niên 70, 80 của thế kỷ 20 Lào nghiêng về quan hệ với Liên Xô, Việt Nam do đó quan hệ hai nước xấu đi. Lúc đó, qua lại trong quan hệ kinh tế hai nước gần như gián đoạn. Sau khi hai nước bắt đầu khôi phục quan hệ năm 1988, Trung Quốc cũng ở vào giai đoạn đầu của cải cách mở cửa, nhu cầu đầu tư nước ngoài của tự mình cũng rất lớn, do đó, giai đoạn này đầu tư của Trung Quốc vào Lào là rất ít, phần lớn là viện trợ kinh tế cho Lào.
Giai đoạn cất cánh. Giai đoạn cất cánh tính từ thời điểm Lào gia nhập ASEAN cho đến năm 2008, tức là từ năm 1997 đến 2008. Giai đoạn này, Lào dần dần tiếp cận, tích cực tham gia vào công tác của ASEAN, kinh tế phát triển nhanh chóng, đã thu hút được nhóm lớn doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Lào. Năm 1998, Lào bắt đầu thực thi “Hiệp định ưu đãi thuế quan chung” khu vực mậu dịch tự do ASEAN. Hiệp định này phân hàng hóa thành 4 loại hàng miễn thuế, hàng ngoại lệ thông thường, hàng hóa ngoại lệ tạm thời và hàng hóa nhạy cảm. Hiệp định này quy định việc thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN trước năm 2008, sẽ hạ mức thuế cuối cùng của khu vực này xuống còn 0-5%, điều này đã tạo ra sức hút thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Lào.

Giai đoạn phát triển nhanh chóng. Giai đoạn phát triển nhanh chóng được tính từ năm 2008 đến nay. Giai đoạn này bắt đầu tư năm 2008, các nước ASEAN trong đó có Lào đã hạ thấp mức thuế hàng hóa của 98% hàng hóa trong danh mục xuống dưới 5%, năm 2015 Trung Quốc và Lào thực hiện thuế quan bằng không, một loại các giải pháp mang tính chính sách khiến đầu tư của Trung Quốc vào Lào đi vào giai đoạn phát triển nhanh chóng, giá trị đầu tư tăng cao.
Trích từ Analysis and Propect of Chinese Direct Invesment In Laos, Viện nghiên cứu Trung Quốc – ASEAN, Đại học Quảng Tây, Trung Quốc, phát hành ngày 22/8/2020.











